Nghiên cứu của Clarkson: 'Xanh' là gì? Nếu tàu có cấp độ kỹ thuật 'xanh'

2024-09-03 10:21

Hiện nay, "khử cacbon và chuyển đổi xanh" của ngành vận tải biển là một chủ đề nóng, nhưng vẫn thiếu sự đồng thuận trong ngành về ý nghĩa của "xanh". Clarkson Research cam kết cung cấp cho khách hàng các khung dữ liệu và sau đó cung cấp phân tích phát triển để thúc đẩy mục tiêu cuối cùng của ngành vận tải biển là đạt được sự tuân thủ.

Khi việc chuyển đổi nhiên liệu tiến triển trong ngành vận tải biển, việc đóng tàu mới chạy bằng nhiên liệu thay thế đã thu hút được nhiều sự chú ý hơn. Nhưng việc chuyển đổi nhiên liệu vẫn sẽ mất thời gian và các ứng dụng khác như cải thiện hiệu suất sử dụng năng lượng và các thiết bị tiết kiệm năng lượng cũng sẽ đóng một vai trò quan trọng trong lộ trình giảm phát thải khí nhà kính của ngành vận tải biển. Việc áp dụng các loại công nghệ trên tàu sẽ tác động đến doanh thu và giá trị tài sản của tàu, do đó cần tiếp tục quan tâm phát triển và ứng dụng các công nghệ bảo vệ môi trường khác nhau.

Trên đây là mục đích ban đầu của bài viết này để tham khảo trong ngành.

Phân loại ứng dụng công nghệ

Để hiển thị trực quan hiện trạng ứng dụng công nghệ xanh trong ngành vận tải biển, Clarkson Research đã chia đội tàu hiện tại và các tàu trong sổ đặt hàng thành 5 cấp độ theo loại công nghệ được áp dụng và tuổi của tàu. Ưu tiên của họ từ trên xuống dưới là:

● Cấp độ 1: Tàu “chạy bằng nhiên liệu thay thế”: giảm lượng khí thải cuối tàu

● Cấp độ 2: Tàu “tiết kiệm năng lượng”: Tàu tiết kiệm năng lượng chạy bằng nhiên liệu thông thường, giúp giảm lượng khí thải hơn 20% so với tàu không tiết kiệm năng lượng.

●Cấp độ 3: “Thiết bị tiết kiệm năng lượng ứng dụng”: tàu được trang bị thiết bị tiết kiệm năng lượng ngoài 2 loại trên, các loại thiết bị tiết kiệm năng lượng khác nhau giúp giảm mức tiêu hao nhiên liệu từ 5-10%

●Cấp độ 4: Tàu “dưới 15 tuổi”: tàu ngoài 3 loại đầu là tàu dưới 15 tuổi

● Cấp 5: Tàu "15 tuổi trở lên": tàu từ 15 tuổi trở lên không thuộc 3 loại đầu

Tàu được phân loại theo nguyên tắc trên không được có các bộ phận chồng lên nhau. Theo thống kê của Clarkson Research, 12% đội tàu toàn cầu và các đơn đặt hàng hiện có xét về tổng trọng tải được cung cấp bởi nhiên liệu thay thế, 39% khác là tiết kiệm năng lượng, 8% áp dụng các thiết bị tiết kiệm năng lượng, 15% đội tàu là dưới 15 tuổi và 25% còn lại là tàu từ 15 tuổi trở lên.

1. Tàu “chạy bằng nhiên liệu thay thế”

Các tàu sử dụng nhiên liệu thay thế không carbon hoặc ít carbon sẽ giảm lượng khí thải cuối tàu một cách hiệu quả so với nhiên liệu truyền thống. Theo thống kê của Clarkson Research, xét về tổng trọng tải, 7% số tàu trong đội tàu toàn cầu sử dụng nhiên liệu thay thế. Với việc tăng tốc áp dụng các đơn đặt hàng mới cho nhiên liệu thay thế, tỷ lệ năng lượng nhiên liệu thay thế trong các đơn đặt hàng cầm tay đã tăng lên 51%.

LNG vẫn là lựa chọn nhiên liệu thay thế chính, với năng lượng LNG chiếm 73% đơn đặt hàng hiện có, được hưởng lợi từ giá hàng hóa khí đốt tự nhiên cạnh tranh, nguồn khí đốt rộng khắp và mạng lưới tiếp nhiên liệu trưởng thành. Metanol là loại nhiên liệu thay thế được sử dụng rộng rãi nhất bên cạnh LNG, nhưng mối quan tâm đầu tư vào nhiên liệu metanol đã hạ nhiệt ở mức độ nhất định trong năm nay. Ngoài ra, gần 1.500 tàu đã bổ sung các kế hoạch dự trữ nhiên liệu thay thế để duy trì tính linh hoạt cho việc phát triển nhiên liệu trong tương lai và dự trữ nhiên liệu amoniac ngày càng thu hút sự chú ý.

2. Tàu “tiết kiệm năng lượng”

Clarkson Research định nghĩa các tàu sử dụng động cơ phun điện tử/điều khiển điện tử là tàu "tiết kiệm năng lượng". Ở mức tốc độ hiện nay, so với tàu máy chính điều khiển bằng cơ, tàu máy chính điều khiển điện tử có thể tiết kiệm hiệu quả hơn 20% nhiên liệu. Trong số tất cả các tàu máy chính được điều khiển bằng điện tử, chúng tôi đã định nghĩa rộng rãi các tàu được ký kết sau năm 2012 là tàu tiết kiệm năng lượng hiện đại. Hiệu quả sử dụng năng lượng của các tàu tiết kiệm năng lượng hiện đại đã được cải thiện hơn nữa. Theo thống kê của Clarkson Research, tàu tiết kiệm năng lượng hiện chiếm 32% đội tàu, và tỷ lệ này tăng lên 49% bao gồm cả các đơn hàng có sẵn, phần lớn là tàu tiết kiệm năng lượng hiện đại.

Một số lượng lớn tàu đã được đặt hàng trong thời kỳ bùng nổ vừa qua của chu kỳ thị trường vận tải biển. Thời kỳ giao hàng cao điểm của những con tàu này diễn ra từ năm 2008 đến năm 2012. Tuy nhiên, mức tiêu thụ năng lượng tương đối của những con tàu này không lý tưởng. Trong số tất cả các loại tàu, những loại tàu có tốc độ luân chuyển đội tàu nhanh hơn trong thập kỷ qua có tỷ lệ tàu “tiết kiệm năng lượng” cao hơn. Ngược lại, trong 10 năm qua, các loại tàu nhỏ như tàu chở hàng rời tiện dụng, tàu container trung chuyển và một số loại tàu đặc biệt như tàu MPP đa năng, tàu chở ô tô ít được đầu tư hơn, tỷ lệ tàu "phi- tàu tiết kiệm năng lượng" tương đối cao.

3. Tàu có “Ứng dụng thiết bị tiết kiệm năng lượng”

Các biện pháp giảm phát thải ngắn hạn EEXI/CII của Tổ chức Hàng hải Quốc tế sẽ được triển khai vào tháng 1 năm 2023. Sau khi thực hiện các quy định, việc lắp đặt các thiết bị tiết kiệm năng lượng được các chủ tàu ưa chuộng như một giải pháp kỹ thuật chi phí thấp có thể nhanh chóng cải thiện khí thải của tàu. Về mặt lý thuyết, việc lắp đặt một thiết bị tiết kiệm năng lượng có thể giảm mức tiêu thụ nhiên liệu từ 3-10%. Hiệu quả cụ thể khác nhau tùy thuộc vào loại tàu và thiết bị. Theo thống kê nghiên cứu của Clarkson, gần 10.000 tàu trong đội tàu đã được trang bị thiết bị tiết kiệm năng lượng và gần một nửa trong số đó được trang bị từ hai thiết bị tiết kiệm năng lượng trở lên.

Cơ sở dữ liệu của Clarkson ghi lại việc áp dụng các thiết bị tiết kiệm năng lượng khác nhau trên mỗi con tàu. Hiện nay, các thiết bị tiết kiệm năng lượng được lắp đặt ở vị trí phía trước và phía sau của chân vịt là phổ biến nhất và có số lượng lớn nhất. Tuy nhiên, việc nghiên cứu và phát triển các thiết bị tiết kiệm năng lượng gần đây đã tăng tốc và ngày càng có nhiều thiết kế sản phẩm xuất hiện, bao gồm nhiều thiết bị bắt mắt và đắt tiền như thiết bị buồm và hệ thống bôi trơn không khí. Ngày càng có nhiều tàu cân nhắc việc trang bị các thiết bị tiết kiệm năng lượng trong giai đoạn thiết kế tàu mới. Hiện nay, hơn 4.000 tàu chở hàng rời trong đội tàu và sổ đặt hàng đã được trang bị các thiết bị tiết kiệm năng lượng.

4/5 Tàu không ứng dụng công nghệ xanh

Phân chia đội tàu toàn cầu theo độ tuổi tàu, thống kê của Clarkson Research cho thấy trong số các đội tàu trẻ dưới 15 tuổi, 26% số tàu vẫn chưa có ứng dụng công nghệ xanh (tức là tàu “ba không”, không có nhiên liệu thay thế và không có năng lượng). -tiết kiệm động cơ chính, không có thiết bị tiết kiệm năng lượng). Hầu hết các tàu này được giao từ năm 2010 đến 2014 và có tuổi thọ từ 10 đến 14 tuổi. Nếu tính đến số năm hoạt động trung bình của tàu là 25 năm thì về mặt lý thuyết, phần này của tàu có khả năng lắp đặt thêm các thiết bị tiết kiệm năng lượng và sửa đổi nhiên liệu thay thế.

Cuối cùng là những chiếc tàu cũ còn lại có tuổi đời từ 15 tuổi trở lên. Theo thống kê nghiên cứu của Clarkson, độ tuổi trung bình hiện nay của đội tàu toàn cầu là 13,9 tuổi và 1/3 số tàu trên 15 tuổi. Đến năm 2036, khoảng 48% đội tàu toàn cầu hiện tại sẽ từ 25 tuổi trở lên. Mặc dù có sự khác biệt giữa các loại tàu khác nhau, nhưng nhìn chung có tiềm năng rất lớn cho việc tháo dỡ tàu trong 10 năm tới.